LỊCH SỬ HÌNH THÀNH
Thị xã Hồng Lĩnh là một địa danh nằm dưới chân núi Hồng Lĩnh, cận kề với dòng sông Lam trong xanh huyền thoại, là tiếp điểm nối 3 huyện Can Lộc - Nghi Xuân và Đức Thọ, nơi tiếp giáp giữa hai con đường huyết mạch của quốc gia, là đường 8A thông qua với nước bạn Lào, để từ đó thông thương với các nước Đông Dương và Đông Nam Á. Hồng Lĩnh đã từng được con người đến khai phá từ rất sớm. Trên vùng đất này đã từng lưu truyền nhiều huyền thoại gây cuốn hút cho những ai quan tâm.

Đền Nhà Thánh - Phường Đức Thuận (Đã bị phế tích) - Ảnh: Đào Trọng Đức
 
"Ông Đùng lấy ngón tay móc quặng sắt trong lòng rú Hồng; đốt cả rừng lim lấy than luyện sắt, rèn dao rựa, rồi dạy nghề cho dân trong vùng".
Lại chuyện "Vua An Dương Vương tuần du, đi thuyền trên sông, gặp người con gái đẹp từ dưới nước nổi lên, xưng tên là Long thần. Vua bèn cưới nàng làm vợ, và dựng đô ấp Việt Thường ở Ngàn Hống".
Rồi "Ngọc phả Đền Hùng và một số chùa ở Sơn Tây còn ghi lại Kinh Dương Vương đóng đô ở Hồng Lĩnh sinh ra Lạc Long Quân sau đó mới di cư ra Bắc".
Qua khúc xạ của các lăng kính huyền thoại, huyền sử ấy, cái cốt lõi của lịch sử cũng dần hiện lên. Cổ sử đã chép về một bộ tộc Việt Thường ở vùng này. Bản đồ khảo cổ học đã ghi lại 2 di chỉ đồ đá mới Suối Tiên, Trung Lương và dân ở đây cũng đã từng nhặt được rìu đá, tìm thấy mộ thuyền. Lại còn những tên đất, tên làng cổ kính: Kẻ Lách, Kẻ Lau, Kẻ Dằng, Kẻ Chế....(Nghi Xuân); Kẻ Trổ, Kẻ Hồ, Kẻ Dè, Kẻ Triềng, Kẻ Trai...(Đức Thọ); Kẻ Ngoạt, Kẻ Đá, Kẻ Trằng, Nhà Từa ...(Can Lộc) ở vùng tiếp giáp thị xã và Kẻ Bấn, Kẻ Vọt, Kẻ Treo, Kẻ Rục, Nhà Dào, Nhà Chàng, Làng Chạu...ở ngay trên đất thị xã...Từ đời Lý, Trần, vùng đất Ngọc Sơn – Tiên Sơn dân cư đã đông đúc, nghề nông, nghề thủ công đều phát triển. Nhiều tài liệu lịch sử, khảo cổ cũng chứng minh rằng dọc mé Nam rào Rum (sông Lam) từ Hồ, Trổ xuống Tả Ao, thế kỷ X-XI đã rất thịnh vượng.
Như vậy, Hồng Lĩnh là một địa danh duy nhất của cả nước có truyền thuyết về đế đô của dân tộc Lạc Việt từ thời dựng nước, vùng xung quanh Bãi Vọt đã từng là một địa phương có sự phát triển khá rực rỡ về kinh tế, về văn hoá, học vấn. Một biểu hiện sinh động của sự phát triển kinh tế - văn hoá là hệ thống các đền, chùa, miếu mạo được xây dựng khá dày và ngày nay trở thành những di tích văn hoá, những chứng tích của một thời phát triển như chùa Hương Tích được xây dựng vào khoảng thế kỷ 13, theo tương truyền chùa là nơi thờ Công chúa Diệu Thiện con Vua Sở Trang Vương, được lịch sử ghi nhận là tiền thân của chùa Hương Tích ở Hà Tây; chùa Thiên Tượng được xây dựng vào đời Trần.
 Phạm Sư Mạnh (thế kỷ XIV) trong bài "Sơn hành" có câu:
Hương Tượng phong cao môn bắc địa 
Ðồng Long hải khoát hộ nam chinh 
           Nghĩa là: 
Hương Tượng núi cao có chùa là cửa đất bắc
Thế rồng vượt biển phù trợ  cuộc nam chinh 
Chùa Thiên Tượng được coi là danh lam thứ hai ở ngàn Hồng sau chùa Hương Tích, ngoài ra còn các chùa như: chùa Long Đàm, chùa Báo Ân… thời nhà Nguyễn, Hồng Lĩnh được coi là một trong chín cảnh đẹp của đất nước, năm 1836 khi đúc đỉnh  để đặt trong  Hoàng Cung vua Minh Mệnh đã chọn Hồng Lĩnh để tạc vào Anh đỉnh.
Tháp Chuông tại chùa Thiên Tượng - Ảnh: Đào Trọng Đức - Đức Thuận

            Trong lịch sử, Bãi Vọt cũng đã từng cống hiến cho đất nước nhiều danh nhân kiệt xuất như Bùi Cầm Hổ một người văn võ toàn tài làm quan dưới các triều vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông và Lê Nhân Tông, đã từng được thăng chức đến Ngự sử, Ông đã có công mở khe lấy nước tưới cho hàng nghìn mẫu ruộng ở xã Độ Liêu, được nhân dân lập đền thờ đến ngày nay; rồi hai cha con: Sử Hy Nhan đỗ trạng nguyên thời vua Trần Dụ Tông (1363) và con là Sử Đức Huy đỗ trạng nguyên dưới triều vua Trần Thuận Tông (1381).
"Địa linh, Nhân kiệt" như vậy, nhưng cùng với hành trình lịch sử của dân tộc, Bãi Vọt cũng từng trải qua những trang sử đau thương và hãi hùng. Trong các chế độ xã hội cũ, Bãi Vọt đã từng được coi là nơi đất dữ, nơi ẩn náu "đất làm ăn" đã có thời trên đường thiên lý Bắc – Nam, khách lữ hành khi nghe đến cái tên "Treo vọt" là đã phải rùng mình, chùn bước. Mãi đến những năm gần đây, nhân dân trong vùng còn truyền tụng nhau câu nói "cướp Bài dài, khái Bãi Vọt" "cướp Bãi dài, khái Cửa Trẹm" những câu nói đó đã phần nào gợi lên cảnh hoang sơ và hãi hùng của vùng đất Bãi Vọt một thời. Bãi Vọt cũng đã từng nổi tiếng là nơi "ma thiêngđộc nước" nhiều câu phương ngữ truyền tụng đến ngày nay như "sốt rét Kẻ Treo, bủng beo Quảng Khuyến" hay "Toét mắt, đinh chân là dân Bãi Vọt". Đời sống thiếu thốn, trình độ hiểu biết về vệ sinh thấp kém khiến cho cư dân Bãi Vọt một phần bị chết vì bệnh tật, một phần thì tai hoạ do con người và thiên nhiên gây ra đã làm cho cư dân nơi đây nhiều phen phiêu tán. Bãi Vọt đã có tiếng  là nơi "đất nghịch" đất " đãi khách" ( ý nói ở tạm thời thì được, ở lâu dài thì không", vì vậy, mặc dù được khai phá rất sớm nhưng cư dân Bãi Vọt tan rồi lại hợp, hợp rồi lại tan, đã nhiều thời kỳ Bãi Vọt trở thành hoang vắng. Cách mạng tháng 8 thành công rồi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Bãi Vọt từng ngày đổi thịt thay da.
            Do vị trí địa lý có tầm quan trọng đặc biệt, khi phát động cuộc chiến tranh phá hoại Miền Bắc, đến đế Quốc Mỹ đã coi Ngã ba Bãi Vọt là vùng trọng điểm bắn phá. Trong suốt cuộc chiến tranh phá hoại, đế Quốc Mỹ đã trút xuống đây hàng nghìn tấn bom đạn các loại, pháo đài bay B52 đã từng ném bom rãi thảm xuống đây hàng chục lần hòng cắt đi con đường tiếp viện của miền Bắc đối với miền Nam và nước bạn Lào, nhưng quân dân Bãi Vọt không hề nao núng đã ngoan cường đánh trả, hàng trăm trận bắn rơi nhiều máy bay Mỹ, giữ mạch máu giao thông thường xuyên thông suốt. Nhiều cá nhân, đơn vị chốt giữ Bãi Vọt đã lập nhiều chiến công xuất sắc.
 Một thời kỳ lịch sử lắm bi phương nhưng cũng rất đỗi hào hùng đã qua, mở ra một giai đoạn mới - Giai đoạn Bãi Vọt vươn mình đứng dậy xây dựng một cuộc sống mới ấm no hạnh phúc, cùng nhân dân Hà Tĩnh nói riêng cùng nhân dân cả nước nói chung, tiến vào thiên nhiên kỷ mới với những bước nhảy vọt của sự phát triển.
Trước những năm 1970, Bãi Vọt vẫn còn hoang vắng lắm. Thời điểm này chỉ có một số cư dân quần tụ ở làng Bình Lạng và Ngọc Sơn, còn vùng xung quanh Ngã Ba thì hoàn toàn không người ở. Một vùng đất rộng hàng trăm ha còn hoàn toàn hoang hoá, chỉ là bãi sình lầy với các loại cây sim, mua, vọt (Tiến) lau lách mọc đầy, người đi không nổi. Ở địa phận khối  1, khối 2 phường Bắc Hồng bây giờ, HTX Hồng Sơn đã từng tổ chức một trang trại chăn nuôi quy mô khá lớn, với các loại gia súc như dê, trâu… Nhưng sau một thời gian vì lý do "nước độc" đàn gia súc không phát triển được đành phải giải tán.
            Năm 1973, Hiệp định Pari được ký kết, Mỹ ngừng ném bom phá hoại miền Bắc, sự nghiệp giải phóng dân tộc thống nhất đất nước chưa hoàn thành, nhưng hoà bình đã được lập lại trên miền Bắc. Trong không khí tràn đầy phấn khởi nhân dân miền Bắc nói chung và nhân dân Hà Tĩnh nói riêng bắt tay vào khôi phục hậu quả chiến tranh, tái thiết đất nước, Bãi Vọt cũng từ đó mà dần dần thay da đổi thịt.
 Nhận thấy Bãi Vọt, một vùng đất có nhiều thuận lợi cho việc phát triển về nhiều mặt, các ngành từ địa phương đến Trung ương đã liên tiếp cho thành lập một số cơ sở kinh tế trên vùng đất Bãi Vọt như: Xí nghiệp sản xuất gạch ngói Thuận Lộc; Xí nghiệp sản xuất gạch ngói số 6 (thuộc Bộ Xây dựng); Xí nghiệp đại tu ô tô (thuộc Bộ Giao thông vận tải), đây là một xí nghiệp có cơ sở hạ tầng, kỷ thuật khá hiện đại có khả năng sản xuất ô tô, nhưng do cơ chế quản lý bao cấp nên không phát huy được tác dụng; Trại chăn nuôi rồi sau đó là của hàng thực phẩm; Cửa hàng mua bán tổng hợp (thuộc Sở Thương nghiệp); Xí nghiệp khai thác đá Hồng Sơn; Xí nghiệp vận tải hàng quá cảnh (C7), thời gian này hàng hóa từ nước bạn Lào được chuyển về đây rất nhiều…Với sự có mặt của hơn 20 đơn vị sản xuất và dịch vụ quần tụ tại đây bước đầu xoá bỏ đi cái cảnh hoảng sơ, quạnh vắng của vùng Ngã ba Bãi Vọt.
            Trong một chuyến đi thăm một số Tỉnh Miền Trung vào năm 1973 sau khi miền Bắc lập lại hoà bình, Tổng Bí thư Đảng lúc bấy giờ là đồng chí Lê Duẩn, khi đi qua vùng Trảng Giữa (thuộc địa phận khối 1, 2 và khối 8 phường Bắc Hồng bây giờ) nhìn vùng đất rộng lớn còn hoang hoá đồng chí đã nói với cán bộ Tỉnh, Huyện cùng đi, đại ý là: nhân dân ở đây chưa phải đi khai hoang ở đâu xa, mà trước hết các đồng chí phải tổ chức cho dân khai hoang những vùng này trước đã, trước đây do hoàn cảnh khó khăn thì phải chấp nhận, bây giờ hoà bình rồi, các đồng chí phải có kế hoạch khôi phục, không thể để những vùng đất như thế này hoang hoá mãi được.
            Lời nói của đồng chí Lê Duẩn lúc đó vừa là một gợi mở, vừa cũng là một chỉ thị của Đảng đối với Đảng bộ nhân dân Đức Thọ cũng như nhân dân Hà Tĩnh. Vào những năm 1973 - 1974 tỉnh Hà Tĩnh và huyện Đức Thọ đã huy động một lực lượng người và phương tiện máy móc, tiến hành lấp hố bom, san ủi mặt bằng nhằm cải tạo vùng đất này. Kết quả của  chiến dịch là vùng Trảng Giữa rộng trên 50 ha đã được san ủi bằng phẳng. Hệ thống bờ vùng, bờ thửa, kênh mương tươi tiêu cũng được đào đắp hoàn chỉnh, bảo đảm cánh đồng này vừa có thể trồng màu, vừa có thể cấy được hai vụ lúa. Cuối năm 1976, sau khi nhập tỉnh, theo sáng kiến của đồng chí Trần Quốc Đạt lúc đó là Chủ tịch tỉnh, nhân dân Đức Thọ đã đắp một con đê dài gần 1km chạy từ Cồn Bùi đến giáp Đồng Trận để ngăn nước hồ Đại Rai dự trữ cho mùa khô hạn. Để ghi nhớ công ơn của vị Chủ tịch tỉnh, nhân dân đã lấy tên ông đặt cho con đê này gọi là " Đê ông Đạt".
          Phía Đông Bãi Vọt là dãy núi Hồng Lĩnh như một bức tường thành sừng sững mọc lên giữa đồng bằng chắn gió từ biển đông. Từ xưa, Hồng Lĩnh là rừng cây rậm rạp, nhiều muông thú, và nhiều loại gỗ quý. Các cụ già kể lại:  vào những năm 30, 40 của thế kỷ XX đã từng có đàn khỉ, đàn lợn rừng đêm vẫn kéo ra trộm khoai, lúa trên cánh đồng Kẻ Thổ - Ngọc Sơn và Kẻ Vọt - Bình Lạng (theo bút ký sử liệu của Thái Kim Đỉnh). Nhưng rồi trải qua năm tháng, do sự tàn phá của con người và chiến tranh rừng Hồng Lĩnh ngày một cạn kiệt, nhiều vùng đã trở thành đồi núi trọc, muông thú ngày một ít đi có loại hầu như không còn thấy ở rừng Hồng Lĩnh nữa. Nhận thấy được tầm quan trọng lá phổi xanh này, cùng với phong trào trồng cây gây rừng của cả nước. Tỉnh Nghệ Tỉnh mà trực tiếp là nhân dân huyện Đức Thọ đã huy động nhân dân, học sinh trồng cây trên núi Hồng Lĩnh từ những năm 60, khi mà cuộc chiến tranh chống Mỹ còn ở vào giai đoạn quyết liệt nhất. Kết quả đên thời điểm thành lập Thị trấn Hồng Lĩnh, rừng Hồng Lĩnh hầu như được phủ kín bởi cây Thông và Bạch Đàn, cây đã được trồng giáp xuống lề đường 1A - có những cây Bạch Đàn đã có đường kính 70 - 80cm.

            Ngoài thế mạnh là  trồng cây công nghiệp núi Hồng Lĩnh còn là nơi cung cấp đá với trữ lượng lớn cho ngành xây dựng.
Không những thế mà Bãi Vọt còn có một quần thể các di tích đẹp nổi tiếng như Chùa Long Đàm, Thiên Tượng, Suối Tiên…. hứa hẹn một tiềm năng lớn để phát triển du lịch.
Rõ ràng với những thế mạnh "Thiên phú", Bãi Vọt đã hội tụ đủ khả năng để phát triển "Công, Nông, Lâm nghiệp - Thương mại và Du lịch, dịch vụ". Đó là thế mạnh mà không phải địa phương nào cũng có.
Từ những tiềm năng to lớn đó, Bãi Vọt đã hội tụ đủ yếu tố khách quan và chủ quan, đòi hỏi phải có sự thay đổi về hình thái tổ chức để  có điều kiện phát huy hết thế mạnh của mình. Ý tưởng thành lập Thị trấn ở vùng Bãi Vọt đã được hình thành trong suy nghĩ của đội ngũ cán bộ chủ chốt huyện Đức Thọ và tỉnh Nghệ Tĩnh lúc đó và đồng thời cũng là mong muốn của mọi tầng lớp nhân dân ở đây.
Cho đến năm 1981, vùng Bãi Vọt thuộc quyền quản lý của xã Đức Thuận. Lúc bấy giờ, vùng Ngã Ba Bãi Vọt ngoài lực lượng CBCNVC Nhà nước thì dân ở đây chỉ mới quy tụ ở Làng Bình Lạng (một làng cổ có từ thời Lý) cách ngã ba Bãi Vọt 1km về phía Tây, nhưng do nằm trên điểm giao nhau của hai đường quốc lộ 1A và 8A cho nên các hoạt động diễn ra ở đây trở nên khá sôi động và nhộn nhịp.
Trước tình hình phát triển nhanh chóng của vùng Bãi Vọt xét thấy điều kiện chín muồi, cuối năm 1980 các cấp lãnh đạo huyện Đức Thọ, các cấp lãnh đạo của tỉnh Nghệ Tĩnh đi đến thống nhất đề nghị Chính Phủ cho thành lập Thị Trấn mới ở vùng Bãi vọt.
Sau khi nghiên cứu tờ trình, cử nhiều đoàn cán bộ, chuyên gia về khảo sát thực tế, ngày 19/9/1981, Hội đồng Bộ trưởng Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra quyết định số 76 QĐ/HĐBT thành lập đơn vị hành chính mới là  Thị Trấn Hồng Lĩnh đặt dưới quyền quản lý của huyện Đức Thọ, theo quyết định này Thị Trấn Hồng Lĩnh có diện tích tự nhiên 250 ha, đường biên giới phía Nam giáp xã Thuận Lộc. Theo đường biên giới này thì toàn khu chợ Thị xã hiện nay, xí nghiệp gạch ngói Thuận Lộc thuộc đất Thị trấn.
Sau 10 năm xây dựng và phát triển, Thị trấn Hồng Lĩnh đã mang dáng dấp của một đô thị, dẫu chưa hiện đại nhưng bước đầu cũng đã nhộn nhịp đông vui. Năm 1991, tỉnh Nghệ Tĩnh được tách thành 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, thị trấn Hồng Lĩnh thuộc tỉnh Hà Tĩnh.
Hồng Lĩnh có vị trí giao thông hết sức thuận lợi, có quốc lộ 1A và 8A chạy qua, tạo ra mối giao lưu quan trọng Bắc - Nam và Quốc tế; có hệ thống đường thủy, bao gồm sông Lam, sông Minh, Kênh nhà Lê thuận lợi cho giao thụng, thủy lợi phục vụ sản xuất và đời sống. Nằm giữa 2 đô thị là thành phố Vinh và tỉnh lỵ Hà Tĩnh, có điều kiện để phát triển kinh tế toàn diện, đặc biệt là công nghiệp, thương mại, dịch vụ và du lịch.
            Hồng Lĩnh có nguồn tài nguyên phong phú thuận lợi cho sự phát triển công nghiệp, sản xuất vật liệu xây dựng, có nhiều tiềm năng và điều kiện để phát triển trồng trọt, chăn nuôi, bố tríđược nhiều lao động có việc làm, nâng cao đời sống cho nhân dân lao động. Nguồn nhân lực dồi dào, con người ở đây có truyền thống chịu khó, cần cù, thông minh, sáng tạo, năng động, nhạy bén với cơ chế thị trường trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ.
            Hồng Lĩnh là một vùng đất sơn thủy hữu tình, với thế núi, hình sông "bao quát càn khôn" và thấm đẫm nhiều vỉa tầng văn hóa. Cùng với khí thiêng của sông núi nơi này, Hồng Lĩnh đã trở thành một không gian huyền thoại. Đây là một lợi thế để Hồng Lĩnh có thể mở mang phát triển du lịch, dịch vụ trước mắt cũng như trong tương lai.
Núi Ngọc - Ảnh Đào Trọng Đức - Đức Thuận

Với vị trí địa lý thuận lợi, cộng với những tiềm năng vốn có của mảnh đất núi Hồng, Sông La, đặc biệt qua 10 năm xây dựng, thị trấn Hồng Lĩnh mặc nhiên trở thành trung tâm đô thị phía Bắc tỉnh và hứa hẹn một khả năng phát triển mạnh mẽ hơn nữa. Từ tình hình phát triển nhanh chóng, đòi hỏi thị trấn Hồng Lĩnh phải có một bước cải cách hành chính nghĩa là cần có một hình thức quản lý mới phù hợp với tính chất của một đô thị đang trên đà phát triển. Nhận thức được điều đó, ngay từ năm 1991, khi mới tách tỉnh, những nhà hoạch định chiến lước phát triển của Hà Tĩnh đã nghĩ ngay đến việc thành lập Thị xã Hồng Lĩnh mà cơ sở là Thị trấn Hồng Lĩnh. Từ ý tưởng kịp thời, đúng đắn và sáng suốt đó, Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã khẩn trương xây dựng đề án, lập tờ trình đề nghị Chính phủ cho thành lập thị xã Hồng Lĩnh.
Sau khi nghiên cứu thực tế và xem xét tờ trình của tỉnh Hà Tĩnh, ngày 02/3/1992 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ra Quyết định số 67/HĐBT thành lập thị xã Hồng Lĩnh do Phó chủ tịch HĐBT Nguyễn Khánh ký. Tại Điều 1 Quyết định số 67/HĐBT đã ghi rõ: "Nay thành lập thị xã Hồng Lĩnh thuộc tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở thị trấn Hồng Lĩnh, xã Đức Thuận, xã Trung Lương, 29,02 ha diện tích tự nhiên, với 389 nhân khẩu của xã Đức Thịnh thuộc huyện Đức Thọ, các xã Đậu Liêu, Thuận Lộc huyện Can Lộc".
Sau 20 năm xây dựng và phát triển, Đảng bộ và nhân dân Hồng Lĩnh đã phát huy truyền thống đoàn kết, sáng tạo, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, xây dựng Thị xã ngày càng phát triển toàn diện. Từ những ngày đầu với bao khó khăn, vất vả, đến nay Thị xã đã trở thành trung tâm KT- VHXH phía Bắc của tỉnh Hà Tĩnh. Cơ sở hạ tầng không ngừng được củng cố và xây dựng, cảnh quan đô thị ngày một khang trang, kinh tế tiếp tục chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng tích cực với tốc độ tăng trưởng cao, VH-XH đã có bước phát triển mới, đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện về vật chất cũng như tinh thần; chính trị ổn định, QP-AN vững chắc. Những thành tựu quan trọng đó đã trở thành giá đỡ về vật chất và tinh thần to lớn để Đảng bộ và nhân dân Hồng Lĩnh tiếp tục phấn đấu vươn lên giành được nhiều thành tích vẻ vang hơn nữa trong thời gian tới.
20 năm - chặng đường chưa phải là dài so với lịch sử hàng ngàn năm của mãnh đất còn đậm dấu Trang Vương và Hồng Sơn huyền thoại, nhưng tất cả những gì mà Đảng bộ và nhân dân đã làm được trong thời gian qua là minh chứng hùng hồn cho sức sống mãnh liệt, bản lĩnh, trí tuệ tuyệt vời, niềm tin và sự khát  khao cháy bỏng của con người Hồng Lĩnh " Dũng sinh mưu lược" trên bước đường đổi mới do Đảng ta lãnh đạo.
Thị xã bước vào tuổi 20 phơi phới sức xuân! Chặng đường mới còn đan xen giữa khó khăn và thuận lợi, giữa thời cơ và thách thức. Hơn bao giờ hết, chúng ta  phải thực sự kiên định, vững vàng, sáng tạo và không ngừng đổi mới. Phát huy tinh thần đoàn kết thống nhất cao trong Đảng, sự đồng thuận của nhân dân cũng như những thành tựu KT-XH và những bài học kinh nghiệm quý báu qua 20 năm xây dựng và trưởng thành, Đảng bộ và nhận dân Hồng Lĩnh sẽ tiếp tục vững bước đi lên, giành được nhiều thành tích to lớn hơn nữa; xây dựng Thị xã xứng đáng là điểm sáng của đô thị hiện đại, văn minh, phồn thịnh phía Bắc của tỉnh nhà./. 
 
                                       Nguyễn Quang Vinh – BTG Thị ủy (sưu tầm và biên soạn)

Visualització d'enquestes Visualització d'enquestes

Bạn biết đến Cổng Thông tin điện tử Thị xã Hồng Lĩnh qua...?
% Vots
17% 9
a. Qua quảng cáo
15% 8
b. Được giới thiệu
32% 17
c. Qua mang Internet
4% 2
d. Qua Website khác
9% 5
e. Qua báo, đài, Tivi
23% 12
f. Qua công cụ tìm kiếm

Vots totals: 53

Les votacions són deshabilitades perquè aquesta enquesta va finalitzar en 01/01/16 07:31.

Lượt người truy cập Lượt người truy cập

0 0 2 9 1 6 2 2 6 3
Hôm nay: 1.781
Hôm qua: 9.877
Tháng này: 224.935